Dinh dưỡng đóng một vai tṛ cực kỳ quan trọng trong việc bảo tŕ sức khỏe của chúng ta.
Người bị bệnh viêm gan cần một dinh dưỡng đặc biệt tùy theo bệnh trạng của mỗi cá nhân.
Nhiều loại thuốc có thể hại đến tế bào gan, nên người bị viêm gan cần tham khảo ư kiến bác sĩ gia đ́nh của ḿnh trước khi dùng bất cứ một loại thuốc nào.
Dược thảo tuy an toàn, nhưng trong một số trường hợp, thuốc có thể gây ra những điều kiện bất lợi và nguy hại cho người dùng.
Khi gan bắt đầu bị chai, một số thức ăn nước uống thông dụng hàng ngày có thể trở thành những độc tố tác hại trực tiếp đến lá gan.
Trong những năm gần đây, người ta ư thức hơn về vấn đề dinh dưỡng trong việc bảo tŕ sức khỏe cũng như chữa trị bệnh tật. Tuy "Ăn để sống, chứ không phải sống để ăn", chúng ta không nên chỉ ăn để sống "qua ngày". Ăn đúng cách có thểả giúp pḥng ngừa bệnh tật, hoặc thuyên giảm nhiều triệu chứng khác nhau.
Tuy nhiên nói th́ dễ, làm th́ khó. Ngoài
sự hiểu biết sâu xa về các loại dinh dưỡng, người muốn ăn đúng
cách cần một ư chí cương quyết và bền bỉ. Ăn đúng "kiểu", chưa
chắc đă ăn đúng cách. Ăn uống kiêng khem "cực khổ", chưa chắc
sẽ tạo cho cơ thể chúng ta một môi trường thuận lợi. Nếu chúng
ta ăn gạo lức muối mè ngày này qua tháng nọ, chẳng hạn; hoặc
ăn trường chay một cách tuyệt đối mà không để ư đến các chất
đạm hoặc chất bổ khác nhau, cơ thể chúng ta sẽ thiếu dần nhiều
chất dinh dưỡng một cách kinh niên, và từ đó đưa đến nhiều
bệnh tật.
Thông thường, khi cơ thể chúng ta c̣n khỏe mạnh, chưa bệnh tật,
ăn uống một cách "bừa băi", "cẩu thả" cũng chỉ gây ra một số
hậu quả không tốt nếu chúng ta tiếp tục "vung vít" "phá giới"
từ ngày này qua tháng nọ. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng trở nên
vô cùng quan trọng khi gan của chúng ta bị viêm, không c̣n tốt
như xưa.
Dinh dưỡng cho người bệnh viêm gan được phân biệt tùy theo
bệnh trạng của mỗi cá nhân:
1) Người bị viêm gan cấp tính (acute hepatitis)
2) Người bị viêm gan kinh niên (chronic hepatitis) và
3) Người bị chai gan (liver cirrhosis) hoặc ung thư gan (liver cancer).
Nói đến dinh dưỡng chúng ta thường gặp nhiều lời khuyên khác nhau, truyền tụng từ người này qua người nọ, từ đời này qua đời kia. Một số lời khuyên rất đúng và rất nên được ứng dụng vào đời sống hàng ngày. Ngược lại, nhiều lời khuyên hoàn toàn sai lầm và không dựa vào bất cứ một nghiên cứu khoa học nào cả. Những lời khuyên truyền khẩu này nhiều khi đă được phổ biến từ nhiều thế hệ khác nhau, nên được in sâu vào kư ức của đại chúng.
Thậm chí nhiều lời khuyên rất phản khoa học đă và đang được xem như một trong những món quà tinh thần cao quư, trao đổi cho nhau, từ người này sang người khác, và như thế cứ tiếp tục được duy tŕ và ứng dụng một cách rất phổ thông. Áp dụng những lời khuyên vô lư này vào cách thức ăn uống không những không mang lại một lợi ích nào mà c̣n có thể làm cho cơ thể của chúng ta mỗi ngày một yếu đi, một nhiều bệnh tật hơn.
Hơn nữa, không phải bệnh nào cũng có thể chữa được bằng thức ăn. Và không phải thức ăn nào cũng được xem như thuốc chữa bệnh. Theo định nghĩa, "thuốc" là một chất hóa học có thể ứng dụng để trị bệnh hoặc chữa lành thương tích. Nếu thực phẩm được dùng như thuốc trị bệnh, chúng sẽ có tất cả các phản ứng phụ nếu "dùng" không đúng cách hoặc quá "dose".
Thực phẩm chứa đựng nhiều chất đạm (protein), chất đường/bột
(sugar/carbon hydrate), chất mỡ (fat/cholesterol), sinh tố
(vitamin), khoáng chất (trace elements), chất sơ (fiber) v.v.
theo những tỷ lệ khác nhau. Tùy theo tuổi tác, trọng lượng,
nghề nghiệp cũng như sinh hoạt thể thao và phái giới, chúng ta
mỗi ngày cần từ 30 đến 35 Kcal. cho mỗi kư lô trọng lượng cơ
thể. Về chất đạm (protein) chúng ta cần từ 1 đến 1.5 gm cho
mỗi một kư lô trọng lượng mỗi một ngày. Nói một cách khác, nếu
một người lớn nặng khoảng 70 kư, họ cần phải ăn từ 2,100 đến
2,450 Kcal và 70 đến 90 gm chất đạm mỗi ngày.
Tuy một gram chất mỡ chứa nhiều nhiên liệu hơn một gram chất
đường, chất bột hoặc chất đạm, chúng ta nên dùng chất mỡ/ béo
càng ít càng tốt. Tổng số năng lượng mỗi ngày không nên nhiều
hơn 30% dưới dạng mỡ.
Sau đây là bản so sánh giữa các nhiên liệu chứa đựng trong các
loại thịt thông thường:
| 90 Grams | Chất Đạm (Proteins) | Năng Lượng (Calories) |
Mỡ (Fat) |
Mỡ Bảo Ḥa (Saturated Fat) | Choles-terol (mg) |
|
Thịt Ḅ |
21 g |
240 |
15 |
6.4 |
77 |
|
Thịt Cừu |
14 g |
205 |
20 |
8.8 |
63 |
|
Thịt Dê |
26 g |
136 |
2.8 |
1 |
66 |
|
Thịt Gà Tây |
25 g |
135 |
3 |
0.9 |
59 |
|
Thịt Gà |
20 g |
140 |
1 |
0.3 |
55 |
|
Thịt Heo |
14 g |
275 |
18.2 |
6.8 |
62 |
|
Thịt Nai |
26 g |
126 |
1.6 |
0.6 |
65 |
Ngoài ra, mỗi một ngày chúng ta nên ăn khoảng 20 đến 30 gram chất sơ. Điều này nói dễ hơn làm. Tuy chất sơ có nhiều trong các loại rau và trái cây, muốn đạt được số lượng chất sợi kể trên chúng ta phải ăn từ 10 đến 15 các loại trái cây khác nhau mỗi ngày. Một số bệnh nhân có thể bị "śnh bụng" khi ăn quá nhiều chất sợi. Để tránh bị những phản ứng phụ này, quư vị có thể tăng số lượng trái cây và rau quả một cách từ từ. Sau đây là một vài thí dụ điển h́nh của thức ăn chứa đựng nhiều chất sơ:
|
Thức Ăn |
Khẩu Phần |
Chất Sơ (grams) |
|
Bánh Ḿ Nâu (whole wheat) |
1 lát |
2.0 |
|
Bánh ḿ trắng |
1 lát |
0.9 |
|
Broccoli |
1 cốc (cup) |
6.5 |
|
Cam |
1 quả nhỏ |
3.0 |
|
Cà Rốt sống |
4 củ |
1.7 |
|
Chuối |
1 trái cỡ trung |
2.0 |
|
Cơm trắng |
1 bát nhỏ |
1.5 |
|
Dứa tươi |
3/4 cốc (cup) |
1.4 |
|
Đậu Đen / Đậu Đỏ |
1/2 cốc (cup) |
5.5 |
|
Đậu Đũa |
1 cốc (cup) |
4.2 |
|
Gạo Lức |
1/2 cốc (chưa nấu) |
5.5 |
|
Khoai Tây |
1 củ nhỏ |
4.2 |
|
Lê |
1 trái nhỏ |
3.0 |
|
Mận khô |
3 trái nhỏ |
1.7 |
|
Mận tươi |
2 trái nhỏ |
2.4 |
|
Măng tây |
1/2 cốc (cup) |
1.8 |
|
Nho tươi |
15 trái nhỏ |
0.5 |
|
Sà lách xanh |
1 cốc (cup) |
0.5 |
|
Táo |
1 trái nhỏ |
2.8 |
|
Xoài |
1 quả nhỏ |
6.0 |
Nếu v́ một lư do nào đó, quư vị không thể ăn đủ 20 đến 30 grams chất sơ mỗi ngày, quư vị có thể uống thêm một số chất sợi được bầy bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ như Citrucel, Fiberall, Metamucil v.v. Nếu được quư vị nên chọn loại chất sợi có thể tan trong nước (water soluble fiber) như methylcellulose, và tránh dùng những chất sợi như psyllium. Chất psyllium có thể lên men trong ruột già gây ra śnh bụng hoặc đau "quặn bụng". Các loại rau muống, rau rền, rau cải cúc v.v. là những thức ăn thuần túy Việt Nam với số lượng chất sợi rất cao.
THỰC PHẨM CHO NGƯỜI VIÊM GAN CẤP TÍNH:
Khi bị viêm gan cấp tính, bệnh nhân có
thể bị đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, tương tự như
những cơn cảm cúm đường ruột hay khi bị ngộ độc thức ăn. Nếu
nôn ói trở nên trầm trọng hơn hoặc tiếp tục kéo dài, họ phải
nhập viện trước khi kiệt sức v́ mất quá nhiều nước.
Ngược lại, nếu chỉ hơi nôn nao khó chịu, bệnh có thể được chữa
tại gia. Trong trường hợp này, họ chỉ nên dùng các thức ăn nhẹ,
không dầu mỡ, ít gia vị. Thường nên ăn nhiều hơn vào buổi sáng,
khi cơ thể c̣n tương đối khỏe mạnh. Vào xế chiều cơ thể bệnh
nhân viêm gan cấp tính thường mệt mỏi hơn, nên dễ buồn nôn hơn.
Để tránh bị đầy bụng, khó chịu buồn nôn sau mỗi bữa ăn, họ nên
thi hành câu châm ngôn: "Ăn ít no lâu, ăn nhiều dễ ói". Nghĩa
là họ nên ăn thành nhiều bữa, mỗi lần một ít. Một số bác sĩ
tin rằng, người bệnh viêm gan cấp tính nên ăn nhiều năng lượng
(calories) hơn so với lúc chưa bị bệnh. Năng lượng này rất cần
thiết trong việc hồi phục những tế bào gan nói riêng và toàn
cơ thể nói chung.
Như đă tŕnh bầy trong chương "Bệnh viêm gan A", quư vị nên
dùng phương pháp "đau đâu chữa đó". Điều này có nghĩa là quư
vị chỉ nên uống thuốc trong trường hợp thật cần thiết mà thôi.
Tránh dùng quá liều các loại thuốc có thể hại đến gan, chẳng
hạn như Tylenol (Acetaminophen). Tránh uống rượu và bia. May
mắn thay, đa số triệu chứng của bệnh viêm gan cấp tính từ các
loại vi khuẩn viêm gan, nếu có, chỉ kéo dài vài ngày tới vài
tuần. Một khi gan b́nh phục bệnh nhân có thể ăn uống lại b́nh
thường mà không phải kiêng cữ ǵ cả.
Cho đến nay Hội Y Sĩ Đoàn Hoa Kỳ vẫn chưa có lời khuyên chính thức về thực đơn hay thực phẩm dành riêng cho người bị viêm gan kinh niên. Bệnh nhân viêm gan kinh niên trong những giai đoạn đầu, thường vẫn tiếp tục cảm thấy rất khỏe khoắn. Sự hấp thụ và tiêu hóa thức ăn vẫn chưa gặp bất cứ một trở ngại nào. Tuy nhiên, khi bệnh trở nên nặng hơn, hệ thống tiêu hóa trở nên yếu dần. V́ thế, người bị viêm gan kinh niên, với thời gian tính, không ít th́ nhiều sẽ bị thiếu dinh dưỡng, mặc dầu cơ thể bên ngoài của họ vẫn có vẻ "mập mạp" và khỏe mạnh như xưa. Nói một cách khác, người viêm gan kinh niên không nên ăn uống kiêng khem một cách cực khổ. Họ cần phải ăn uống thật đầy đủ với nhiều loại thực phẩm khác nhau, thay đổi mỗi ngày, để cung cấp cho cơ thể những chất bổ, chất đạm cần thiết. Họ nên uống mỗi ngày một viên multi-vitamin. Ngoài thuốc bổ thông thường họ cần uống thêm thiamine và folic acid, nhất là nếu họ bị viêm gan v́ uống rượu bia quá nhiều trong một thời gian quá lâu.
Rượu bia là một độc chất nguy hiểm đưa đến viêm và chai gan. Nhiều nghiên cứu cho thấy, rượu bia nếu uống thái quá sẽ làm bệnh viêm gan do vi khuẩn viêm gan (nhất là vi khuẩn viêm gan C phát triển nhanh chóng hơn và trầm trọng hơn. V́ thế bệnh nhân sẽ giảm tuổi thọ nhiều hơn và nhanh chóng hơn so với những người cũng bị viêm gan mà không hề uống rượu. Theo thông cáo của Học Viện Y Tế Quốc Gia (National Institutes of Health) vào năm 1977 bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn viêm gan không nên uống rượu. Nếu uống, không được uống quá một ly rượu nhỏ mỗi ngày. Tốt hơn hết, nên tránh hoàn toàn rượu bia, để tránh t́nh trạng "châm dầu vào lửa".
Trong cơ thể gan là cơ quan chứa đựng nhiều chất sắt. Gan của người bị nhiễm vi khuẩn viêm gan C có khuynh hướng giữ chất sắt nhiều hơn b́nh thường. Quá nhiều chất kim loại này trong cơ thể, nhiều bộ phận khác nhau, như tim, tụy tạng và gan sẽ bị tổn thương. Hơn nữa, tác dụng của thuốc Interferon có thể giảm đi nhiều phần, nếu cơ thể của bệnh nhân chứa đựng quá nhiều chất sắt. V́ thế, bệnh nhân bị viêm gan C với lượng sắt cao trong máu, nhất là khi gan bị chai nên tránh uống thuốc bổ có chất sắt hoặc thực phẩm như thịt đỏ, gan, huyết v.v. Đây là lư do tại sao ăn gan không những không bổ gan, mà c̣n có thể làm hại gan hơn. Nên tránh nấu ăn bằng nồi niêu làm bằng sắt hay lót với chất sắt. Khi dự trữ thức ăn, nên dùng các loại hộp bằng nhựa hoặc thủy tinh. Tránh dùng những hộp bằng kim loại.
Mập ph́ (obesity), bệnh mỡ cao hoặc tiểu đường thường đưa đến
bệnh gan nhiễm mỡ (fatty liver). Lâu dần gan có thể bị viêm.
Những người này nếu xuống cân hay giảm lượng Cholesterol th́
gan có thể tốt hơn. Bệnh nhân bị viêm gan v́ thế nên tập thể
dục đều đặn, bớt ăn nhiều chất béo, cholesterol, đường. V́ béo
ph́ là một căn bệnh có tính cách kinh niên, kinh niên (chronic
disorder), nên những người quá mập cần được theo dơi kỹ lưỡng
và phải xuống kư theo một chương tŕnh giảm cân đặc biệt. Nếu
ăn uống không đúng cách, họ có thể trở nên thiếu dinh dưỡng
một cách trầm trọng mặc dầu thân h́nh vẫn có vẻ mập mạp, "tốt
tướng".
Nói một cách tổng quát, muốn xuống kư, chúng ta phải ăn ít hơn
số calories cần thiết. Tập thể dục là một cách thức tăng cao
số năng lượng cơ thể tiêu thụ mỗi ngày. Tập thể dục c̣n giúp
cho cơ thể chúng ta được cứng cáp và ít bệnh tật hơn. Tùy theo
cách thức tập thể dục, cơ thể sẽ "đốt" một số năng lượng thặng
dư. Sau đây là bản tóm tắt về thời gian tập thể dục cần thiết
để tiêu hủy năng lượng tương đương của một số thức ăn thông
dụng:
Như thế, dựa vào bản tóm tắt kể trên, nếu quư vị đi bộ khoảng
nửa tiếng đồng hồ (và toát mồ hôi rất nhiều), rồi sau đó ăn
một bánh cookie với một lon nước ngọt, quư vị đă "đổ đầy một
b́nh xăng mới" và sẽ không xuống một kư lô nào cả.
|
Thời Gian Tập Thể Dục (phút) để tiêu thụ Thực Phẩm đă dùng |
||||||
|
Thức Ăn |
Kilo-cal |
Hoạt động cơ thể |
||||
|
Đi bộ |
Đi xe đạp |
Bơi lội |
Chạy bộ |
Nằm nghỉ |
||
|
1 th́a cottage cheese |
27 |
5 phút |
3 phút |
2 phút |
1 phút |
21 phút |
|
1 củ carrot sống |
42 |
5 phút |
4 phút |
4 phút |
2 phút |
32 phút |
|
1 bánh cookie |
51 |
10 phút |
6 phút |
5 phút |
3 phút |
39 phút |
|
1 quả cam |
68 |
13 phút |
8 phút |
6 phút |
4 phút |
52 phút |
|
1 ly sữa ít mỡ |
81 |
16 phút |
10 phút |
7 phút |
4 phút |
62 phút |
|
1 th́a mayonnaise |
92 |
18 phút |
11 phút |
8 phút |
5 phút |
71 phút |
|
2 lát bacon |
96 |
18 phút |
12 phút |
9 phút |
5 phút |
74 phút |
|
1 quả táo lớn |
100 |
19 phút |
12 phút |
9 phút |
5 phút |
78 phút |
|
1 lon nước ngọt |
106 |
20 phút |
13 phút |
9 phút |
5 phút |
82 phút |
|
1 trứng chiên |
110 |
21 phút |
13 phút |
10 p hút |
6 phút |
85 phút |
|
1 chai bia |
114 |
22 phút |
14 phút |
10 phút |
6 phút |
88 phút |
|
2 lát ham |
167 |
32 phút |
20 phút |
15 phút |
9 phút |
128 phút |
|
1 ly kem nhỏ |
193 |
37 phút |
24 phút |
17 phút |
10 phút |
148 phút |
|
1/2 ức gà chiên |
232 |
45 phút |
28 phút |
21 phút |
14 phút |
178 phút |
|
Tuna salad |
278 |
53 phút |
34 phút |
25 phút |
14 phút |
214 phút |
|
Hamburger |
350 |
67 phút |
43 phút |
31 phút |
18 phút |
269 phút |
|
1 ly Milk shake |
421 |
81 phút |
51 phút |
38 phút |
22 phút |
324 phút |
Chất đạm từ động vật được t́m thấy rất nhiều trong các loại cá,
thịt, tôm v.v.
Chất đạm (protein) đóng một vai tṛ quan trọng và cần thiết
trong việc bảo tŕ và tăng trưởng bắp thịt trong cơ thể chúng
ta. Chất đạm cũng giúp cơ thể tự chữa bệnh và hồi sức. Người
bị bệnh gan cần ăn uống đầy đủ chất đạm để giúp tế bào gan
tăng trưởng và hồi phục mau chóng. Tùy theo tuổi tác, trọng
lượng, nghề nghiệp cũng như sinh hoạt thể thao và phái tính
nam nữ, bệnh nhân cần từ 1 đến 1.5 gm chất đạm mỗi ngày cho
mỗi một kư lô trọng lượng cơ thể. Người ta thường hiểu lầm là
bệnh nhân viêm gan phải tránh chất đạm, không được ăn quá
nhiều thịt, nhất là ḷng đỏ trứng gà. Điều này chỉ đúng khi
gan bị chai quá nặng mà thôi.
Khi bệnh trở nên nặng hơn, khả năng bài tiết chất mật của gan
giảm dần. Thiếu chất mật sự tiêu hóa và hấp thụ dầu mỡ trở nên
khó khăn hơn. Bệnh nhân có thể bị śnh bụng, khó chịu hoặc
tiêu chảy. Các loại vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E
sẽ không được hấp thụ như mong muốn. V́ thế nếu không uống
thêm Vitamin D (5,000 - 8,000 IU mỗi ngày) và calcium, xương
của họ có thể sẽ xốp hơn và dễ gẫy hơn. Nên uống thêm Vitamin
A từ 10,000 đến 25,000 IU mỗi ngày và Vitamin E từ 50 đến 400
IU mỗi ngày. Một số bác sĩ cũng khuyên nên uống thêm Vitamin C
mỗi ngày. Nếu khả năng tiêu hóa dầu mỡ thuyên giảm trầm trọng
hơn, bệnh nhân viêm gan B kinh niên có thể uống thêm một số
thuốc như Kuzyme HP, Creon 20, v.v.
Trong trường hợp này, khả năng hoạt động của gan đă bị suy giảm rất nhiều. Gan không c̣n cung cấp cho cơ thể đầy đủ những hóa chất và chất đạm. Khả năng loại bỏ chất độc, chất dơ và cặn bă trong người giảm dần. Áp xuất tĩnh mạch cửa tăng cao. Người bị chai gan v́ thế dễ bị phù thủng. Nước ứ đọng trong người làm bụng śnh trướng. Bệnh nhân thường đau bụng tiêu chảy, đi cầu ra máu hoặc đôi khi ói ra máu. Bụng đau lâm râm, không biết đói, thức ăn trở nên vô vị. Vấn đề dinh dưỡng bấy giờ cần phải kiểm soát một cách kỹ lưỡng với sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ.
Người bị chai gan chỉ nên ăn dưới 2 grams
muối mỗi ngày, nghĩa là ít hơn một th́a café muối. Một cách
giản dị, đừng chấm thêm nước mắm, x́ dầu hoặc rắc thêm mắm
muối vào thức ăn đă được dọn ra bàn. Ăn quá mặn, nước sẽ ứ
đọng trong cơ thể, sinh ra cổ trướng, phù thủng v.v. Đa số các
bệnh nhân, v́ thế, phải uống thêm thuốc lợi tiểu. Trong giai
đoạn này, bệnh bắt đầu bước vào "ṿng luẩn quẩn" không lối
thoát. Uống quá ít nước cơ thể sẽ bị khô khan, áp xuất máu
xuống quá thấp đưa đến chóng mặt, nhức đầu v.v. Uống quá nhiều
nước, cơ thể bị phù thủng. Không uống thuốc lợi tiểu, nước sẽ
ứ đọng lại trong bụng (cổ trướng), gây ra khó thở. Uống quá
nhiều thuốc lợi tiểu, các chất điện giải (electrolytes) mất
thăng bằng gây ra nhiều hậu quả không kém phần tai hại.
Để tránh bệnh loạn trí gây từ chai gan (hepatic
encephalopathy), bệnh nhân nên giảm thiểu chất đạm từ động vật
như thịt, cá, trứng gà/vịt, sữa. Không nên dùng quá 0.8 gram
chất đạm từ động vật cho mỗi kư lô trọng lượng mỗi ngày.
Ammonia từ chất đạm của thịt nếu tăng quá cao sẽ làm bệnh nhân
trở nên mệt mỏi, buồn ngủ, thiếu minh mẫn, kém tỉnh táo và nếu
nặng hơn loạn trí, hôn mê bất tỉnh. Mặt khác người ta nhận
thấy chất đạm từ thực vật như đậu nành, đậu hũ dễ ăn hơn và có
thể tránh được những hậu quả của bệnh loạn trí. V́ thế, người
bị chai gan, nên ăn rau quả nhiều hơn thịt. Họ có thể ăn từ 70
đến 80 gram chất đạm từ thực vật mỗi ngày. Ăn nhiều rau c̣n
mang lại một lợi điểạm khác không kém quan trọng. Đó là bớt
bón. Khi bị bón, các độc tố, trong đó có chất ammonia chế tạo
từ vi trùng trong ruột già một cách nhanh chóng hơn. Ngoài ra,
người ta cũng nhận thấy rằng, nếu ăn nhiều chất sơ, bệnh tiểu
đường cũng có thể suy giảm.
|
Thuốc Bổ cho Người bị Viêm Gan Kinh niên |
|
Vitamin A: 10,000 đến 25,000
IU mỗi ngày |
|
Thuốc Bổ cho người bị Chai Gan |
| Thuốc bổ ở trên cộng thêm Vitamin K: từ 2.5 đến 5.0 mg mỗi ngày |
Ngoài các loại thuốc bổ dùng cho người
bệnh viêm gan kinh niên, bác sĩ có thể sẽ cho uống thêm
Vitamin K từ 2.5 đến 5.0 mg mỗi ngày, nếu bệnh nhân có khuynh
hướng chảy máu, hoặc các chất khoáng như Magnesium glunate,
zinc sulfate v.v.
Người bị chai gan cần phải ăn thật nhiều chất sơ để tránh bị
bón. Trung b́nh họ cần đi đại tiện ít nhất 2 đến 3 lần mỗi
ngày. Một lần nữa điều này nhấn mạnh sự quan trọng của rau và
trái cây trong việc trị bệnh nói chung và bệnh viêm gan nói
riêng. Khi đi cầu nhiều lần trong ngày, phân thành h́nh trong
ruột già sẽ bị "tống" ra ngoài một cách kịp thời, trước khi
chúng bị lên men bởi vi trùng. Khi bị bón, các độc tố bài tiết
từ các vi trùng có thể đi thẳng vào máu, làm tê liệt tế bào óc
của người bị chai gan. Người ta cũng nhận thấy yogurt và sữa
hoặc chất men Lactobacillus acidophilus nếu dùng đúng cách có
thể hóa giải chất ammonia trong phân.
Tóm lại, thực phẩm cho người chai gan và ung thư gan trở nên rắc rối và phức tạp hơn nhiều so với dinh dưỡng cho người chỉ bị viêm gan trong những giai đoạn đầu. Bệnh nhân chai gan mất dần khả năng loại bỏ nhiều độc tố khác nhau trong cơ thể nên dễ bị ngộ độc. Thức ăn thông thường hằng ngày nay cũng có thể biến thành chất độc và trở nên nguy hiểm nếu ăn quá nhiều hoặc quá ít. Thực phẩm cần được lựa chọn kỹ lưỡng hơn, và cách thức cũng như giờ giấc ăn uống cũng phải thay đổi v́ cơ thể người bị chai gan yếu dần. Họ thường cảm thấy uể oải, thiếu sinh lực, ăn không ngon, bụng không đói, miệng không thèm ăn, phần v́ ăn không tiêu, phần v́ mùi vị thức ăn thơm ngon ngày xưa nay trở nên khó chịu, lợm giọng buồn nôn. Bệnh nhân v́ thế nếu không được chữa trị đúng cách, sẽ ĺa trần sớm hơn. Sau đây là một vài phương pháp có thể giúp người bị chai gan thoải mái hơn trong vấn đề ăn uống hằng ngày.
Nói đến dinh dưỡng chúng ta không thể không đề cập đến thức ăn
và cỏ cây dùng trong việc chữa bệnh và pḥng ngừa bệnh tật.
Người ta vẫn cho rằng, ăn ǵ bổ nấy. "Ăn gan, bổ gan. Ăn óc,
bổ óc". Tiếc thay câu này không được đúng cho lắm. Gan tuy
chứa đựng nhiều chất đạm và khoáng chất khác nhau, tiêu thụ
nhiều gan có thể làm gan bị hư hại nhanh chóng hơn.
Trong thế kỷ vừa qua, song song với lối chữa trị chính thống
Tây Y, khuynh hướng chữa bệnh theo những phương thức khác biệt
(alternative medicine) tại Hoa Kỳ gia tăng một cách nhanh
chóng. Phương thức này bao gồm tất cả những lối chữa trị không
dựa theo lư thuyết truyền thống y khoa Tây phương. Thí dụ điển
h́nh như châm cứu (acupuncture), bấm huyệt (acupressure),
chỉnh xương (chiropractic medicine), đấm bóp (massage), yoga,
dinh dưỡng trị liệu, tập dưỡng sinh, dược thảo (herbal
medicine), trị liệu đồng căn (homeopathy, một hệ thống y khoa
dựa trên lư thuyết "lấy độc trị độc") v.v. Và như thế, vào năm
1997, công dân Mỹ đă chi khoảng 21.2 tỷ Mỹ Kim cho những
phương pháp khác biệt này.
Nếu chỉ nói riêng về "dinh dưỡng trị liệu
ngoại phương" (alternative nutritional therapy), vào năm 1996
trên nước Mỹ các chợ bán "thực phẩm dinh dưỡng" ("health food"
stores) mọc lên như nấm với gần 10,000 tiệm giải rác khắp nơi
trên toàn lănh thổ. Số nhuận lợi lên đến 7.6 tỷ Mỹ kim mỗi năm,
trong đó có 3 tỷ Mỹ kim chỉ dành riêng cho các loại thuốc bổ.
Theo nhiều cuộc nghiên cứu khác nhau, ít nhất 40% bệnh nhân
viêm gan kinh niên tại Hoa Kỳ, đă và đang chữa trị bằng một
trong những phương pháp kể trên, trong đó dinh dưỡng trị liệu
đă và đang đóng một vài tṛ cực kỳ quan trọng.
Thật ra, tất cả thức ăn và nước uống hằng ngày của chúng ta
đều mang lại không ít th́ nhiều một số hóa chất có đặc tính
chữa bệnh. Những triệu chứng của bệnh cảm cúm chẳng hạn, có
thể được thuyên giảm phần nào bằng một tô cháo hành nhiều tiêu
hoặc một ly trà nóng với ít chanh và mật ong hoặc pha với quế
v.v. Hơn nữa, mỗi một loại gia vị dùng trong việc nấu nướng có
thể được xem như một loại dược thảo với đặc tính thuyên giảm
một hay nhiều triệu chứng nào đó. Thí dụ điển h́nh như ngũ vị
hương, bột cà ri, hồi, ng̣, húng, quế, xả, ớt, hành, tỏi v.v.
Và như thế, trong mỗi lần ăn uống, chúng ta sẽ cung cấp cho cơ
thể một số nhiên liệu cũng như một số dược thảo.
V́ thế, người Việt có khuynh hướng phân
biệt thực phẩm thành hai loại. Thức ăn "nóng" và thức ăn "mát".
Khi gan bị nóng, dùng thức ăn "mát" sẽ giúp gan đỡ viêm hơn.
Thí dụ điển h́nh cho thức ăn "mát" để trị bệnh "nóng" gan là
artichoke, nói theo tiếng Pháp là artichaud. Một số nhà vạn
vật thiên nhiên cho rằng artichoke dự trữ nhiều chất cynarin
với khả năng bảo vệ và duy tŕ tế bào gan. Họ cũng tin rằng
chất hóa học này có khả năng kích thích sự di chuyển của chất
mật tiết từ gan xuống túi mật. V́ thế, một viện bào chế dược
phẩm Pháp đă sản xuất và bầy bán thuốc artichoke với tên là
Chophytol. Tuy nhiên, công hiệu của artichoke trong việc chữa
trị bệnh viêm gan chưa được chứng minh và công nhận bởi cơ
quan FDA và Hội Y-Sĩ Đoàn Hoa-Kỳ.
V́ đây là một thức ăn rất "lành", nên theo tôi nghĩ, quư vị
vẫn có thể tiếp tục nấu lấy nước mà uống. Trái artichoke ăn
ngon miệng, nên nếu không giúp được chữa bệnh, cũng mang lại
cho chúng ta những giây phút thoải mái trong lúc thưởng thức
món ăn tinh khiết này.
Một loại thuốc khác rất thịnh hành trong cộng đồng người Việt
là Sulfarlem. Thuốc này có tên hóa học là anetholtrihione do
viện bào chế Solvay Pharma sản xuất. Dựa theo tài liệu của
hăng thuốc này, Sulfarlem là một loại thuốc có khả năng kích
thích chức năng tiết chất mật của gan (biliary function
stimulant) và được dùng trong việc điều trị những triệu chứng
liên quan đến rối loạn tiêu hóa (digestive problems) và trong
trường hợp khô miệng v́ tuyến nước bọt không bài tiết đầy đủ.
Tuy họ không hề đề cập đến khả năng chữa trị bệnh viêm gan,
rất nhiều bệnh nhân vẫn uống thuốc này hàng ngày, với hy vọng
là gan của họ sẽ bớt bị "nóng". Thuốc này cũng không được FDA
công nhận trong việc chữa trị bệnh viêm gan và không được dùng
trong trường hợp có sạn trong túi mật.
Một trong những thức ăn khác rất thịnh hành trong dân gian
dùng để chữa trị bệnh viêm gan là tỏi. Tỏi với hai chất hóa
học germanium và selenium vẫn được xem như một chất thiên
nhiên có khả năng tẩy độc, khử trùng và làm các mạch máu dẻo
dai hơn. Tiếc thay, tỏi vẫn chưa được chứng minh một cách khoa
học về công dụng chữa bệnh sưng gan. Hơn nữa trong tỏi có rất
nhiều chất Sulfur, nên nếu ăn quá nhiều tỏi, chúng ta có thể
bị ngộ độc, da bị nổi ngứa, đau bụng, tiêu chảy, đôi khi đi
cầu ra máu hoặc làm tuyến giáp trạng thay đổi bất thường.
Vào năm 1994, dưới áp lực mănh liệt của
dân chúng, chính phủ liên bang Hoa Kỳ đă thông qua đạo luật
với tên là Dietary Supplement Health and Education Act. Trong
đạo luật này, thảo mộc được xếp vào loại "thức ăn bổ túc"
("food supplements"); và các viện bào chế dược thảo được phép
sản xuất và bầy bán thuốc trên thị trường một cách dễ dàng, mà
không phải trải qua những cuộc thử thách khó khăn như trong
trường hợp của các loại thuốc tây. Họ chỉ đ̣i hỏi là hăng bào
chế phải bảo đảm với người tiêu thụ là thuốc không gây ra phản
ứng phụ. V́ được xem là một loại thức ăn, các loại thuốc cỏ
cây này không bắt buộc phải theo một quy luật nhất định. Họ có
thể thay đổi chất lượng và h́nh thù của thuốc bất cứ lúc nào
mà không cần phải trải qua những thủ tục hành chánh rất phức
tạp chỉ dành riêng cho các loại thuốc tây. Chính phủ chỉ đưa
ra một điều kiện độc nhất là khi bán thuốc, họ không được phép
công bố là thuốc của họ có thể "chữa dứt bệnh" ("cure") cho
bất cứ một triệu chứng hay một căn bệnh nào. V́ thiếu sự kiểm
soát khắc khe của Cơ Quan Thực và Dược Phẩm (Food and Drug
Administration viết tắt là FDA), chất lượng và phẩm chất của
các loại thuốc này không được đồng nhất và có thể thay đổi rất
nhiều từ hăng thuốc này qua hăng thuốc nọ.
Dựa theo cuộc nghiên cứu về thuốc sâm bày bán trên nước Mỹ của
tờ Consumer Reports, nhiên liệu chính của sâm là chất
ginsenosides thay đổi từ 3 đến 23.2 mg trong mỗi viên thuốc
tùy theo viện bào chế. Điều này có nghĩa là quư vị phải uống
10 viên thuốc sâm của hăng này mới có công hiệu của một viên
thuốc của hăng kia.
Cũng trong một cuộc nghiên cứu tương tự về thuốc
dehydroepiandrosterone (DHEA), người ta khám phá ra trong số
16 hăng bào chế thuốc này, có 3 hăng hoàn toàn không chứa một
tư thuốc nào trong những viên thuốc của họ, 4 hăng khác chứa
ít hơn 80% chất thuốc đă liệt kê, và một hăng khác chứa 150%
nhiều hơn lời khai trên chai thuốc. V́ thế, khi uống thuốc cỏ
cây, không những chúng ta phải tự hỏi về khả năng chữa trị
bệnh của thuốc mà c̣n phải nghiên cứu về phẩm chất và số lượng
của viên thuốc mà chúng ta sắp uống. Tiếc thay, điều này nói
th́ dễ, làm th́ khó, nên đa số bệnh nhân khi uống thuốc cỏ cây,
thường "nhắm mắt uống đại", mà người Mỹ vẫn thường nói: "Take
it at your own risks".
Có lẽ thuốc đă và đang được nhiều người dùng nhất để chữa trị
bệnh viêm gan là Milk Thistle. Chất hóa học chính trong loại
cỏ gai này là silymarin, một loại dược thảo đă được dùng trong
hơn 2000 năm qua. Từ thời trung cổ, người Hy Lạp đă dùng thuốc
này để "lọc gan" ("liver cleanser"). Thuốc được rút tỉa từ rễ
và các hạt của loài cỏ với tên thảo mộc là silibum marianum.
Các nhà sản xuất milk thistle cho rằng chất silymarin có khả
năng bảo vệ gan không bị tàn phá bởi nhiều độc tố khác nhau,
nhất là trong trường hợp ngộ độc với nấm Amanita phaloides và
trong trường hợp viêm gan v́ nghiện rượu quá nhiều trong một
thời gian quá lâu. Dựa theo kết quả của 16 cuộc nghiên cứu
trên toàn thế giới về công dụng của milk thistle, người ta
nhận thấy, phân hóa tố ALT và chất mật bilirubin có khuynh
hướng giảm xuống sau một thời gian chữa trị bằng chất
silymarin. Tuy nhiên, không một cuộc nghiên cứu nào có thể
chứng minh một cách cụ thể về khả năng chống lại sự tàn phá
của vi khuẩn viêm gan B và C. Tuy hăng bào chế thuốc thường
khẳng định là thuốc không có phản ứng phụ, bệnh nhân thường
hay đau bụng, tiêu chảy và buồn nôn sau khi uống thuốc.
Một loại thuốc thứ 2 thường được dùng để chữa trị bệnh viêm
gan là thymosin, một chất kích thích tố lấy từ tuyến ức (thymic
glands). Người ta cho rằng chất hóa học này có thể gây ảnh
hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn nhiễm bằng cách kích thích
những bạch huyết cầu tăng trưởng nhanh chóng hơn. Chất
interferon sẽ được chế tạo một cách đắc lực hơn. Trong 2 cuộc
nghiên cứu khác nhau, thuốc thymosin đă mang lại một số kết
quả tương đối khả quan trong việc chữa trị bệnh viêm gan B nếu
so sánh với thuốc bột (placebo). Trong một cuộc nghiên cứu thứ
3, thuốc thymosin hoàn toàn không có hiệu lực nếu so sánh với
thuốc interferon. Tuy FDA vẫn chưa cho phép dùng thymosin
trong việc chữa trị bệnh viêm gan B và C, nếu dùng chung với
thuốc interferon, kết quả chữa trị có thể tốt đẹp hơn.
Ngoài những thuốc điển h́nh kể trên, hàng trăm loại thuốc cỏ
cây, củ hột khác nhau đă và đang được bày bán dưới nhiều tên
hiệu khác nhau. Chúng có thể được bán riêng biệt hoặc trộn
chung với các dược thảo khác. Từ sụn cá mập đến dầu cá thượng
đẳng DHA, từ sâm cao ly đến cao hổ cốt, từ trái nhầu Noni đến
Pentaphi, từ nấm Shitake đến Huang Qi v.v. Và như thế, mỗi năm
công dân Hoa Kỳ chi khoảng 6 tỷ Mỹ kim cho các loại thuốc "thiên
nhiên" này. Người Việt Nam chúng ta c̣n uống thêm các loại
thuốc Bắc, thuốc Nam khác nhau. Đa số là các loại thuốc gia
truyền với nhiều công thức và cách thức pha chế hoàn toàn bí
mật, nên thiếu những nghiên cứu khoa học và kiểm soát lâu dài.
Tuy thuốc được xem là "thức ăn nước uống", chúng cũng có thể
gây ra những tác dụng sinh lư (physiologic activity) trên cơ
thể chúng ta như tất cả những loại thuốc tây khác. V́ thế,
ngoài những phản ứng chính, chúng sẽ mang lại một số phản ứng
phụ. Đa số các phản ứng phụ này, lệ thuộc vào số lượng thuốc
mà bệnh nhân đă và đang uống. V́ không nằm dưới sự kiểm soát
của FDA, một số dược thảo có thể bị ô nhiễm bởi nhiều chất kim
loại nặng (heavy metals), thuốc diệt sâu bọ và côn trùng
(herbicides and pesticides) phát nguồn từ những cỏ cây, củ hạt
mà thuốc đă được chiết xuất. Do đó, một số thuốc cỏ cây có thể
gây ra những phản ứng phụ bất thường, khó hiểu hoặc tàn phá cơ
thể từ từ trong một thời gian dài lâu, gây ra quái thai hoặc
ung thư. Thêm vào đó, một số dược thảo cũng có thể thay đổi
tác dụng hoặc tăng trưởng các phản ứng phụ của thuốc tây. V́
thế, một lần nữa, dược thảo tuy được đặc chế từợ những cỏ cây
rất "thiên nhiên", chúng có thể gây ra những phản ứng phụ rất
trầm trọng.
Dựa theo tờ JAMA (Journal of the American Medical Association)
đăng vào tháng 11 năm 2004, khoảng 20% của 70 loại thuốc cỏ
cây bào chế tại Á Châu bầy bán tại Boston đă chứa quá nhiều
những kim loại nặng như ch́, mercury và arsenic. V́ thế, cũng
theo bài báo này, họ đă đưa ra lời khuyên là tất cả bệnh nhân
đang uống các loại thuốc cỏ cây nên đi thử máu để xem có bị
trúng độc v́ những kim loại nặng này hay không.
Để biết thêm chi tiết và những khuyến cáo về các loại thuốc cỏ
cây quư vị có thể vào những trang nhà sau đây:
Dựa theo bản tin chính thức của Hội Tiêu Hóa Hoa Kỳ (American Gastroenterological Association AGA) phát hành vào tháng 2 năm 2001, phản ứng phụ và các biến chứng của thuốc dược thảo không phải tầm thường và nhỏ nhoi như người ta vẫn tưởng. Cũng theo bản tin này, trong một cuộc nghiên cứu với khoảng 2,700 cuộc nhập viện tại Đài Loan, hơn 4% tổng số bệnh nhân đă phải chữa trị tại nhà thương v́ những phản ứng phụ gây ra bởi thuốc men, trong đó dược thảo đứng hàng thứ ba. Một bản tường tŕnh khác cho biết, trong số 1,700 bệnh nhân nhập viện tại Hồng Kông, khoảng 34 người đă phải vào nhà thương v́ phản ứng gây ra từ thuốc Tầu (Chinese herbal regimens). Tại Anh Quốc, dựa theo một thống kê kéo dài hơn 8 năm, hơn 1,000 trường hợp bệnh tật liên quan đến dược thảo đă xẩy tại nhiều thành phố khác nhau. V́ thế, AGA đă đưa đến kết luận là tuy dược thảo được xem là rất an toàn, một số thuốc cỏ